Quan hệ giao thương với người nước ngoài trên đất Kẻ Chợ thế kỉ 17-18
Với lợi thế nằm cạnh sông Nhị rộng lớn, lại tiện đường thiên lí đi khắp nơi trong cả nước, nên Thăng Long sớm được người nước ngoài để ý và đặt quan hệ giao thương. Tuy nhiên, trong suốt thời kì phong kiến từ thế kỉ thứ 10 đến thế kỉ 16, quan hệ giao thương với nước ngoài ở nước ta hầu như không phát triển.
Sử sách có ghi, triều Lê cũng như nhiều triều đại phong kiến phương Đông khác có chính sách hạn chế ngoại thương, một phần lí do xuất phát từ nhu cầu tự vệ để ngăn ngừa do thám của nước ngoài và mặt khác do tư tưởng trọng nông, muốn gắn chặt người dân với đồng ruộng, không cho người dân rời đồng ruộng và quê hương đi buôn bán.
Chính vì vậy, triều đình đã có nhiều biện pháp kiểm soát ngoại thương chặt chẽ, nhất là với hoạt động của tư nhân. Để hạn chế việc quan lại mua bán hàng hoá với Trung Quốc, nhà Lê còn ra quy định: sứ thần nào mang hàng về sẽ bị khám xét, thu và trưng bày trong triều để bêu làm xấu hổ rồi mới cho mang về.
Chính sách nghiêm ngặt đó là trở lực kìm hãm sự phát triển kinh tế hàng hoá, làm cho quá trình tách rời thủ công nghiệp ra khỏi nông nghiệp và quá trình phát triển của các đô thị rất khó khăn.
Phải sang đến thế kỉ 17-18 (thời Lê - Trịnh) thì quan hệ làm ăn buôn bán với người nước ngoài mới xây dựng được cơ sở. Sử sách còn ghi lại, vào năm Đinh Sửu (1637), chúa Trịnh Tráng đã trực tiếp tiếp tàu buôn Hà Lan đến Thăng Long đặt quan hệ buôn bán.
Hà Lan vốn là một nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển từ rất sớm. Với lợi thế có nền thương mại hàng hải mạnh mẽ nên nước này có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển, mở rộng giao thương buôn bán với các nước Đông Nam Á.
Vào năm 1637, chiếc tàu buôn của Hà Lan xuất phát từ thương điếm Nhật Bản, qua Đài Loan đến Đàng Ngoài, với con đường thiên lí từ Thái Bình theo sông Nhị ngược lên Phố Hiến và tới đất Kẻ Chợ.
Vua Lê chúa Trịnh tiếp trưởng đại diện Hà Lan. Qua thương thuyết, vua Lê đã đồng ý cho Hà Lan mở một thương điếm ở Phố Hiến, sau đó lại chuyển tiếp lên lập thương điếm ở đất Kẻ Chợ.
Sự xuất hiện của tàu buôn Hà Lan đến Đàng Ngoài đã bước đầu mở ra những cơ hội mới cho các hoạt động thương mại với phương Tây. Cũng từ đó mối quan hệ đối ngoại giữa Hà Lan và triều đình Lê - Trịnh cũng được thiết lập.
Ngay sau đó chỉ vài năm, vào năm Ất Dậu (1645), người Hà Lan đã lập thương điếm đầu tiên đặt tại Thăng Long. Thời kì này, nền kinh tế hàng hoá ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể. Nhiều sách sử đều ghi rằng, thời kì này, quan hệ thương mại với nước ngoài, đặc biệt là một số nước phương Tây được mở rộng.
Ở Đàng Trong có thương cảng Hội An sầm uất, tàu thuyền của thương nhân nước ngoài như Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan cập bến buôn bán nhộn nhịp.
Ở Đàng Ngoài, đô thị cổ Phố Hiến cũng là nơi tiếp nhận nhiều tàu buôn nước ngoài neo đậu, đến buôn bán và sinh sống tạm trú ở đó.
Ở đất Kẻ Chợ, thương điếm Hà Lan được dựng ngoài thành Đại La, bên bờ sông Nhị, thuận tiện cho tàu buôn theo đường thuỷ đến buôn bán.
Đương thời, sử sách ghi chép thương điếm của người Hà Lan xây dựng bên bờ song Hồng là một công trình kiến trúc châu Âu đẹp nhất, khác hẳn kiểu kiến trúc cung đình của nước Đại Việt.
Phố Hiến - Kẻ Chợ từng lừng danh trong lịch sử phong kiến nước ta về sự phát triển mạnh mẽ trong việc buôn bán trao đổi với nước ngoài. Chính vì thế mà sau này, dân gian còn truyền mãi câu ca: Thứ nhất kinh Kỳ, thứ nhì Kẻ Chợ.
Thấy được lợi thế của đất Kẻ Chợ trong vị trí thuận lợi giao thông đường thuỷ, năm 1683, người Anh đã đến Thăng Long để thương lượng đặt thương điếm.
So với người Hà Lan thì người Anh đặt thương điếm muộn hơn, nhưng đây lại là cơ sở quan trọng cho các hoạt động giao thương giữa công ty Đông Ấn Anh với Đàng Ngoài. Người Anh thường đem ến bán len dạ, hàng xa xỉ, các hoả khí, và xây dựng quan hệ ngoại giao mềm dẻo, hữu hảo. Tuy nhiên, chỉ được một thời gian xây dựng thương điếm thì người Anh lại tìm thấy thị trường mới mẻ và hấp dẫn với nước láng giềng, nên họ không còn mặn mà với đất Kẻ Chợ nữa.
Qua hơn 10 năm, thương điếm đóng cửa. Sang thế kỉ 18, 19, người Hoa đến Thăng Long buôn bán đông đúc.
Sách Đại Nam nhất thống chí, phần ghi về Chợ và Phố còn ghi: Phố Hà Khẩu ở địa phận huyện Thọ Xương, nhà buôn nước ta và người Thanh ở lẫn lộn, bày hang bán các thứ như sách vở, hoá vật, dược liệu phương Bắc, có tên nữa là Hàng Buồm. Còn ở phố Việt Đông (nay là phố Hàng Ngang) là chỗ ở cũ của khách hộ Minh Hương, mới lấy làm nơi tích trữ hàng hoá.
Bên cạnh sự phát triển của kinh tế giao thương với nước ngoài thì tình hình chính trị trong nước liên tục có những biến động, Trịnh - Nguyễn phân tranh giữa Đàng Ngoài và Đàng Trong. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý thương nhân nước ngoài khi quyết định đặt thương điếm.
Cùng với việc mở cửa để tàu buôn nước ngoài đến buôn bán, triều đình Lê - Trịnh muốn giữ yên ổn phố phường kinh thành nên đã ra những qui định bắt buộc đối với những thuyền buôn nước ngoài.
Giữa và cuối thế kỷ 17, bên cạnh những người thương nhân nước ngoài đến buôn bán thì cũng có một bộ phận không nhỏ những người có nguồn gốc và mục đích khác nhau.
Để đảm bảo cho việc quản lí hoạt động thương mại và đảm bảo việc bảo vệ kinh thành của chính quyền phong kiến lúc bấy giờ, nên vào tháng 5 năm 1650, chúa Trịnh đã ra chỉ dụ qui định rõ nơi tạm trú cho thuyền buôn nước ngoài tới kinh thành.
Tuy nhiên, do sự phát triển mạnh mẽ của các hoạt động trao đổi giao thương ở Thăng Long, như một loạt các thương điếm của người Hà Lan, người Anh được thiết lập mà việc quản lí kinh thành trở nên khó khăn.
Mặt khác, bên cạnh các hoạt động giao thương thì các giáo sĩ phương Tây còn lợi dụng sự đông đúc để mở rộng việc truyền giáo. Chính vì thế tháng 8 năm 1678, triều đình đã ra lệnh cấm người nước ngoài không được ở lẫn trong kinh kì.
Lịch sử kinh đô trải qua nhiều biến động với những cuộc chiến tranh lien miên, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển giao thương buôn bán. Tuy nhiên, đất Kẻ Chợ cho đến ngày nay vẫn là nơi buôn bán hấp dẫn để người nước ngoài và người trong nước hướng đến. Những mốc lịch sử giao thương đáng nhớ trong hai thế kỉ 17-18 cũng góp phần làm phong phú cho lịch sử của đất Thăng Long ngàn năm yêu dấu.
Khánh Văn
Nguồn tin
Các tin khác Tin nổi bật