Tu bổ chùa Phật Tích-Công trình kỷ niệm Đại lễ
Chùa Phật Tích là di tích lịch sử văn hóa quốc gia, nằm trên sườn nam núi Phật Tích (còn gọi núi Lạn Kha, non Tiên) thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Với số lượng di sản vật thể vô cùng phong phú, chùa được xếp vị trí hàng đầu về giá trị cổ vật. Đây còn là một trong những công trình trọng điểm hướng về 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Chùa Phật Tích, cái nôi đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam

Chùa Phật tích, cái nôi đầu tiên của Phật giáo Việt Nam
Ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên, xã Phật Tích đã nằm trong địa bàn diễn ra cuộc gặp gỡ giữa Phật giáo Ấn Độ và tín ngưỡng dân gian Việt cổ. Trên cơ sở đó hình thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của đất nước (trung tâm Dâu - Luy Lâu). Và nhà sư Ấn Độ Khâu-đà-la đã về đây dựng chùa và truyền đạo. Nhưng phải đến đời Lý (1010-1225) thì chùa Phật Tích mới được xây dựng với qui mô lớn. Chùa Phật Tích được triều Lý ưu ái đặc biệt bởi nó nằm trong vùng văn hóa lâu đời của xứ Kinh Bắc, quê hương của vua Lý.
Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Long Thụy Thái Bình thứ tư (1057) với nhiều tòa ngang dãy dọc. Năm 1066, vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một cây tháp cao. Sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó bức tượng Phật A-di-đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng. Để ghi nhận sự xuất hiện kỳ diệu của bức tượng này, làng đổi tên là Phật Tích và dời cả lên trên sườn núi.
Vì Phật Tích là một trung tâm Phật giáo nổi tiếng và là nơi cảnh quan tươi đẹp lại gắn với hàng loạt những câu chuyện huyền thoại, nên các vua Lý và sau này là các vua Trần thường xuyên lui tới thăm viếng. Năm 1071, Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ "Phật" dài tới 5 mét, sai khắc vào đá đặt trên sườn núi. Trong buổi đầu xây dựng chùa Phật Tích, bà Ỷ Lan có vai trò đặc biệt quan trọng. Để ghi nhận công lao của bà, ở thôn Vĩnh Phú lập đền thờ bà gọi là đền bà Tấm.
Trải qua thời gian, chùa Phật Tích bị tàn phá nặng nề. Vào thời Lê, năm 1686, chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn và đổi tên là Vạn Phúc tự Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại sau đó được gần 300 năm. Kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, chùa lại bị tàn phá, hư hỏng nhiều. Khi hòa bình lập lại (1954) đến nay, chùa Phật Tích được khôi phục dần. Năm 1959, Bộ Văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A di đà bằng đá quý giá. Tháng 4 năm 1962, Nhà nước công nhận chùa Phật Tích là di tích lịch sử - văn hóa. Sau đó nhân dân trồng phía sau chùa một khu rừng với trên một vạn cây thông và cây bạch đàn, và trồng ở trước cửa chùa vườn cây ăn quả. Cho tới nay, chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách, 5 gian bảo thờ Phật, đức A di đà cùng các vị tam thế, 8 gian nhà Tổ, và 7 gian nhà thờ Mẫu.
Đẩy nhanh tiến độ chào mừng Đại lễ
Di tích Chùa Phật Tích là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, một di tích rất quan trọng có giá trị về nhiều mặt như lịch sử, văn hoá, kiến trúc, tín ngưỡng, cảnh quan và tiềm năng du lịch đã được khởi công tu bổ, tôn tạo từ năm 2008 với tổng dự toán kinh phí đã được phê duyệt là 39,96 tỷ đồng. Vốn đã cấp đến năm 2010 là 13 tỷ đồng (2008: 3tỷ; 2009: 5tỷ; 2010: 5tỷ). Ngoài ra các hạng mục khác trong khu di tích cũng đã được tôn tạo như Nhà Tổ đệ nhất, nhà Mẫu, nhà Tăng, xây dựng tượng phật Adiđà trên đỉnh núi với kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Hiện nay Dự án xây dựng Tháp xá lợi phật trên đỉnh núi cũng đang được nhà chùa triển khai thực hiện bằng nguồn vốn xã hội hóa.
Việc phục dựng tòa Tam Bảo theo qui mô và hình dáng kiến trúc được kiến trúc sư người Pháp Bê-ra-xi-ơ ghi lại vào những năm 30 của thế kỷ XX. Bố cục chính: Công trình kiến trúc theo kiểu "nội công ngoại quốc", tổng diện tích nền 1.064m2 (bao gồm cả sân trong), cụ thể: Tiền đường: 11 gian, bước gian 2.8m (riêng gian giữa 3.5m); Nền lát gạch bát 300 x 300 x 50, cao hơn nền sân 0.2m; Khung cột gỗ lim có đường kính cột cái D350, cột quân D300; mặt trước bố trí 05 cửa bức hàn thượng song hạ bản, 06 gian vách gỗ dạng đố lụa; Bộ vì mái và vì nách kiến trúc kiểu chồng rường; Câu đầu, xà nách liên kết theo kiểu ngồi trên đầu cột; Ống muống: 03 gian; bước gian 2.4m, 2.4m, 1.8m; So sánh với bản vẽ của Bê-ra-xi-ơ, hệ kết cấu cần bổ sung 1 hàng cột giữa. Đây là hệ kết cấu cần thiết để đảm bảo tính kỹ thuật đỡ xà nách, bẩy, kẻ xối ăn vào từ tiền đường và thượng điện (trước đây gối vào tường điều này ảnh hưởng đến kiến trúc cũng như tuổi thọ của di tích); Thượng điện: Gồm 3 gian 2 chái; gian giữa 3.5m, gian bên 2.8m. Để đảm bảo tính linh thiêng của Tòa Thượng điện điều chỉnh lại hệ thống vách phía sau Thượng điện; Hành lang: Gồm 2 x 11 gian; hệ thống khung cột gỗ lim, chân cột đường kính D280, phía trước trống không có cửa vách, nền lát gạch bát. Vì nóc theo kiểu chồng rường giá chiêng. Để thuận tiện cho giao thông và việc thờ cúng, chuyển 02 gian thờ hai bên hành lang về phía sau của tòa hậu đường; Nhà hậu: Tổ chức mặt bằng nhà hậu ở hai bên thành 2 nhà tăng, ở giữa thờ tổ. Nhà hậu 11 gian, gian giữa 3.5m các gian còn lại 2.8m; hệ khung cột gỗ lim với 4 hàng chân cột, cột cái đường kính D320, cột quân đường kính D280; hai bên nhà hậu tổ chức 02 phòng tăng với 02 gian cửa bức hàn thượng song hạ bản, ngăn chia bằng vách đố lụa; phần còn lại để trống 07 gian thờ tổ; Nền móng: Nền tiền đường được xác định là cốt 0.00m, sân trong thấp hơn 0.2m ; phần ống muống được nâng cao lên + 0.2m và thượng điện nâng thêm 0.45m (+ 0.65m so với nền tiền đường). Toàn bộ nền Tam bảo được lát bằng gạch bát 300 x 300 x 50 mạch 20 kiểu chữ công, nền sân trong được lát bằng gạch lá nem 200 x 200 x 25 mạch 15 kiểu ô cờ; Tường bao: Toàn bộ tường bao ống muống, hành lang tả hữu và nhà Tổ hậu xây gạch chỉ đặc, Vữa Xi măng mác 75, trát vữa áo ngoài, quét vôi ve màu vàng nhạt; Hệ khung kết cấu chính: Toàn bộ hệ cột, xà, câu đầu tạo thành bộ khung hoàn chỉnh không sơn thếp; Hệ vách cửa: Hệ cửa theo kiểu truyền thống "thượng song hạ bản"; hệ vách gỗ kiểu đố lụa; cửa sổ gỗ kiểu chữ "Thọ"; Hệ mái: Kết cấu mái gồm vì, kẻ, dong, hoành, tàu, thượng lương, dui, mè,... bằng gỗ lim, mái lợp bằng ngói mũi hài 110v/m2 dưới lót 02 lớp ngói chiếu. Mái Tiền đường phía trước và Thượng điện các góc đều có đao uốn cong; hồi nhà Tổ hậu xây thu hồi bít đốc. Toàn bộ bờ nóc, bờ chảy tam bảo đều được gắn hoa chanh. Hai đầu bờ nóc Tiền đường và Thượng điện đắp kìm 3 lớp vuốt công theo mẫu gốc (ảnh của Bê-ra-xi-ơ), giữa bờ nóc Tiền đường đắp mảng đại tự ghi tên chùa (Vạn Phúc tự) bằng chữ Hán; Hệ thống cấp điện:
Nguồn điện lấy từ nguồn chung của khu di tích. Toàn bộ hệ thống điện được lấy từ tủ điện tổng, phân nhánh cho từng khu vực chức năng; các tủ bảng điện đặt ở vị trí khuất, công tác và ổ cắm sau khi hoàn thiện đều bằng mặt tường, ở những nơi là vách hay khung gỗ thì lắp nổi nhưng sơn cùng màu với gỗ.
Theo ông Trần Tuấn - Trưởng phòng Kế hoạch tài chính, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh, cho tới nay đã hoàn thành cơ bản một số hạng mục công trình như: Kè đá sau Tam bảo, phần móng tháp cổ, Tam bảo, Nhà Mẫu và Nhà tổ Đệ nhất dự tính tới tháng 4/2010 sẽ hoàn thành. Hiện nay đang tiến hành triển khai các hạng mục công trình như: Tứ trụ, gác chuông, kè đá phía trước Tam bảo, hàng Linh thú, tôn tạo tổng thể sân vườn và bậc tam cấp cũng đang được tiến hành dự tính sẽ hoàn thành trước ngày Đại lễ.
Nằm trên sườn núi, xung quanh là rừng thông và vườn cây trái, chùa Phật Tích mang những nét huyền bí và thật thơ mộng. Chùa lại là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng, là công trình văn hóa quý giá và đặc biệt là nằm trong vùng văn hiến Kinh Bắc lâu đời nên chùa Phật Tích khi hoàn thành đi vào sử dụng sẽ là nơi thu hút được bà con trong vùng và du khách thập phương.
Hà Thanh
Nguồn tin http://www.thanglonghanoi.gov.vn
Các tin khác Tin nổi bật